Folium Ilexi Kaushii

Chè Đắng - Lá

Dược liệu Chè Đắng - Lá từ Lá của loài Ilex kaushue thuộc Họ Rubiaceae.
Rubiaceae
Author

TS. Hoàng Lê Sơn

Tóm tắt

Lá cây chè đắng (Folium ilexi kaushii) là lá đã phơi hay sấy khô của cây Chè đắng (Ilex kaushue S.Y.Hu; Syn. Ilex kudingcha C.J. Tseng), họ Trâm bùi (Aquifoliaceae). Trên thế giới, cây phân bố ở Trung Quốc, Hải Nam còn ở Việt Nam cây có ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Theo y học cổ truyền, cây được sử dụng để trị cảm nắng sốt cao, các chứng do thử nhiệt như: viêm họng, lỵ, viêm dạ dày cấp tính; đau đầu hoa mắt, bệnh tăng huyết áp, cholesterol máu cao; trừ lỵ do thấp nhiệt. Tác dụng dược lý của cây chè đắng là giúp làm giảm cholesterol, lợi tiểu, chống oxy hóa, hạ huyết áp. Trong cây có chứa triterpenoid saponin, Flavonoid, Polyphenol, Sterol thực vật, Polysaccharide.

I. Thông tin về dược liệu

  • Dược liệu tiếng Việt: Chè Đắng - Lá
  • Dược liệu tiếng Trung: ? (?)
  • Dược liệu tiếng Anh: ?
  • Dược liệu latin thông dụng: Folium Ilexi Kaushii
  • Dược liệu latin kiểu DĐVN: Folium Mori Albae
  • Dược liệu latin kiểu DĐVN: nan
  • Dược liệu latin kiểu thông tư: nan
  • Bộ phận dùng: Lá (Folium)

Theo dược điển Việt nam V: Lá hình bầu dục thuôn dài hay hình mác ngược, dài 10 cm đến 22 cm, rộng 4 cm đến 7 cm, cuống ngắn 1 cm đến 1,5 cm. Gân hình lông chim, mỗi bên có khoảng 10 gân đến 14 gân tạo với gân giữa một góc lớn hơn 45°. Mặt trên lá màu xanh thẫm, bóng, mặt dưới lá màu xanh nhạt, đầu lá nhọn, ngắn. Mép lá xẻ răng cưa nhỏ, đầu răng cưa màu đen, cứng như sừng. Vị rất đắng.

Mô tả dược liệu theo thông tư chế biến dược liệu theo phương pháp cổ truyền: nan

Chế biến theo dược điển việt nam V: Hàng năm, có thể thu hái lá từ 2 đến 3 lần. Hái những lá già và lá trường thành, phơi trong bóng râm, chỗ thoáng gió hoặc sấy ờ 50 °c đến 60 °c đến khô.

Chế biến theo thông tư: nan

II. Thông tin về thực vật

Dược liệu Chè Đắng - Lá từ bộ phận từ loài Ilex kaushue.

Mô tả thực vật: cây gỗ nhỏ hoặc bụi leo có chiều cao từ 2-5m, đôi khi hơn, thân và cành thường nhẵn, màu nâu xám.Lá đơn, mọc cách, hình bầu dục hoặc bầu dục thuôn dài, dài 10-20 cm, rộng 4-8 cm.mép lá có răng cưa nhỏ, mặt trên lá xanh đậm, bóng; mặt dưới xanh nhạt hơn.Cuống lá ngắn, dài khoảng 1-2 cm. Hoa nhỏ, màu trắng, thường mọc thành chùm ở nách lá. Hoa có 4-5 cánh, đài hoa nhỏ.Hoa đực và hoa cái thường mọc trên cùng một cây (cây lưỡng tính).Quả mọng, hình cầu nhỏ, đường kính khoảng 5-6 mm, khi chín, quả chuyển sang màu đỏ hoặc đen.

Tài liệu tham khảo: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” - Võ Văn Chi Trong dược điển Việt nam, loài Ilex kaushue được sử dụng làm dược liệu. Chưa có thông tin về loài này trên gibf

III. Thành phần hóa học

Theo tài liệu của GS. Đỗ Tất Lợi: (1) Triterpenoid saponin( Acid ursolic Acid oleanolic), Flavonoid (Rutin, Kaempferol, Quercetin), Polyphenol, Sterol thực vật, Polysaccharide (2) Acid ursolic, Acid oleanolic trong dược điển Trung Quốc

Chưa có nghiên cứu về thành phần hóa học trên cơ sở Lotus


IV. Tác dụng dược lý

Theo tài liệu quốc tế: nan


V. Dược điển Việt Nam V

Soi bột

Bột màu xanh lục, vị rất đắng. Soi bột dưới kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì mang tế bào lỗ khí. Mảnh mô mềm. Sợi xếp thành bó hoặc riêng lẻ, thành rất dày, khoang rất hẹp, phía ngoài gồ ghề. Rất nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Mảnh mạch mạng, mạch xoăn, mạch thang.

No matching items

Vi phẫu

Gân giữa của lá có mặt trên hơi lõm, mặt dưới lồi. Lớp cutin dày phủ toàn bộ biểu bì trên, biểu bì dưới cả phần gân lá và phần phiến lá. Mô dày gồm 1 đến 2 hàng tế bào nằm sát biểu bì trên và 3 đến 4 hàng tế bào nằm sát biểu bì dưới của gân lá. Cung libe-gỗ lớn nằm ở giữa gân lá, cung libe ở phía dưới cung gỗ, bao trùm hai đầu cung gỗ. Bó sợi tập trung nhiều ở hai đầu cung libe-gỗ, sát với phiến lá, một số bó khác nằm rải rác quanh cung libe (thường có nhiều ở những lá già, ở lá non ít có). Mô mềm gồm các tế bào hình tròn, thành mỏng, kích thước lớn. Mô giậu gồm 2 hàng tế bào hình chữ nhật, xếp thẳng góc và sát với biểu bì trên của phiến lá. Mô khuyết rộng, chiếm 1/2 bề dày của phiến lá. Có rất nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai nằm rải rác trong mô dày, mô giậu và mô mềm.

No matching items

Định tính

Lấy 3,0 g bột dược liệu (qua rây số 250), thêm 50 ml ethanol 80 % (TT), đun trên cách thủy trong 30 min. Lọc, cô dịch lọc trên cách thủy còn khoảng 6 ml (dịch A), cho vào 3 ống nghiệm, mỗi ống nghiệm 1 ml để làm các phản ứng sau: Ống 1: Thêm một ít bột magnesi (TT) và 3 giọt đến 4 giọt acid hydrocloric (TT), đun nóng trên cách thủy, dung dịch xuất hiện màu hồng. Ống 2: Thêm 2 giọt dung dịch natri hydroxyd 10% (TT), xuất hiện tủa màu đỏ nâu. Ống 3: Thêm 2 giọt dung dịch sắt (III) clorid 5 % (TT), dung dịch chuyển màu xanh đen. Cho vào ống nghiệm 5 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (TT), thêm 5 giọt dịch A. Lắc mạnh trong 15 s, xuất hiện nhiều bọt bền vững. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4). Bản mỏng: Silica gel G. Dung môi khai triển: n-Butanol – ethanol – amoniac (7:2:5). Dung dịch thử: Lấy 2 ml dịch A, bốc hơi dung môi trên cách thủy. Hòa cắn trong 0,5 ml methanol (TT). Dung dịch đối chiếu: Lấy 3,0 g bột lá Chè đắng (mẫu chuẩn) và tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 10 cm đến 12 cm, lấy bản mỏng ra để khô ngoài không khí. Phun lên bản mỏng dung dịch acid sulfuric 10 % trong ethanol (TT). sấy bản mỏng ở 100 °C cho đến khi hiện rõ vết. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có 6 vết màu đỏ nâu, cùng màu và cùng giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Định lượng

Cân chính xác khoảng 5 g bột dược liệu (qua rây số 250), cho vào bình Soxhlet, thêm 100 ml ether dầu hỏa (40 °c đến 60 °C) (TT), đun hồi lưu trên cách thủy đến khi dịch chiết không màu và loại bỏ dịch chiết ether dầu hỏa. Tiếp tục chiết với 100 ml methanol (TT) đến khi dịch chiết không màu. cất thu hồi dung môi methanol còn khoảng 20 ml. Để nguội, lọc, tráng giấy lọc bằng 10 ml methanol (TT). Gộp dịch lọc và dịch rửa, bốc hơi trên cách thủy còn khoảng 10 ml. Để nguội, rót từ từ dịch chiết methanol vào cốc đã có sẵn 50 ml ether (TT) có nắp, lắc đều, đậy nắp và để cốc vào tủ lạnh qua đêm. Gạn lấy tủa, tủa được để ngoài không khí cho bay hết hơi ether. Hòa tan tủa trong 10 ml methanol (TT), đun nóng trên cách thủy nếu không tan hết. Để nguội, lọc, tráng giấy lọc bằng 10 ml methanol (TT). Gộp dịch lọc và dịch rửa, bốc hơi trên cách thủy còn khoảng 10 ml. Để nguội, rót từ từ vào một cốc đã cân bì chứa sẵn 50 ml ether (TT), để lạnh qua đêm. Gạn lấy tủa. Sấy cốc cùng tủa thu được (saponin toàn phần) ờ 60 °c đến khối lượng không đổi, cân. Tính hàm lượng phần trăm của saponin trong dược liệu. Hàm lượng saponin toàn phần không được ít hơn 5,0 % tính theo dược liệu khô kiệt.

Thông tin khác

  • Độ ẩm: Không quá 13,0 % (Phụ lục 9.6, 2 g, 105 °c, 4 h).
  • Bảo quản: nan

VI. Dược điển Hồng kong

No matching items

VII. Y dược học cổ truyền

nan

Tên vị thuốc: nan

Tính: nan

Vị: nan

Quy kinh: nan

Công năng chủ trị: Vị đắng, ngọt. Tính mát. Vào kinh tâm, tỳ, thận.

Phân loại theo thông tư: nan

Tác dụng theo y dược cổ truyền: nan

Chú ý: nan

Kiêng kỵ: Vì vị thuốc rất đắng nên không nên dùng liều quá cao và thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa.

No matching items