Cỏ Xước (Radix Achyranthis asperae) là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Cỏ xước (Achyranthes aspera L.), thuộc họ Rau giền (Amaranthaceae). Cây xuất hiện ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, bao gồm Nam Á, Đông Nam Á, châu Phi, Trung Mỹ, và các đảo Thái Bình Dương. Cỏ xước phân bố rộng rãi tại Việt Nam, phổ biến từ vùng đồng bằng đến trung du và miền núi thấp trên khắp cả nước. Trong y học cổ truyền, cây được dùng để chữa viêm khớp, đau lưng, sỏi thận, rối loạn kinh nguyệt và hỗ trợ tiêu hóa. Thành phần hóa học của cây bao gồm saponin (acid oleanolic), sterol (stigmasterol, β-sitosterol), flavonoid (quercetin), acid béo (dodecanoic acid), và ecdysteroid (β-ecdysteron).
I. Thông tin về dược liệu
- Dược liệu tiếng Việt: Cỏ Xước - Rễ
- Dược liệu tiếng Trung: ? (?)
- Dược liệu tiếng Anh: ?
- Dược liệu latin thông dụng: Radix Achyranthis Asperae
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: Radix Et Rhizoma Gentianae
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: nan
- Dược liệu latin kiểu thông tư: nan
- Bộ phận dùng: Rễ (Radix)
Theo dược điển Việt nam V: Rễ nhỏ cong queo, bé dần từ cổ rễ tới chóp rễ, dài 10 cm đến 15 cm, đường kính 0,2 cm đến 0,5 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt, nhẵn, đôi khi hơi nhăn, có các vết sần của rễ con hoặc lan cả rễ con. Mặt cắt ngang màu nâu nhạt hơn một chút, có các vân tròn xếp tương đối đều đặn, đó là các vòng libe-gỗ.
Mô tả dược liệu theo thông tư chế biến dược liệu theo phương pháp cổ truyền: nan
Chế biến theo dược điển việt nam V: Đào rễ về, giũ sạch đất, cát, phơi hay sấy khô.
Chế biến theo thông tư: nan
II. Thông tin về thực vật
Dược liệu Cỏ Xước - Rễ từ bộ phận Rễ từ loài Achyranthes aspera.
Mô tả thực vật: Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá
Tài liệu tham khảo: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - Đỗ Tất Lợi Trong dược điển Việt nam, loài Achyranthes aspera được sử dụng làm dược liệu. Chưa có thông tin về loài này trên gibf
III. Thành phần hóa học
Theo tài liệu của GS. Đỗ Tất Lợi: (1)chứa nhiều thành phần hóa học thuộc các nhóm chính như saponin, steroid, flavonoid, acid béo và ecdysteroid. Trong đó, saponin là hợp chất nổi bật với aglycone chính là acid oleanolic. Cây còn chứa các sterol như stigmasterol, spinasterol, β-sitosterol, và flavonoid như quercetin cùng các dẫn xuất. Một số acid béo như dodecanoic acid và hợp chất β-ecdysteron thuộc nhóm ecdysteroid
Chưa có nghiên cứu về thành phần hóa học trên cơ sở Lotus
IV. Tác dụng dược lý
Theo tài liệu quốc tế: nan
V. Dược điển Việt Nam V
Soi bột
Màu trắng xám, vị nhạt. Soi kính hiển vi thấy: Mạch gỗ thường nhỏ và hẹp, chủ yếu là mạch điểm. Sợi gồm những tế bào dài hẹp, xếp thành từng bó hoặc có khi dài ra đứng riêng lẻ, hầu hết các sợi đều trong suốt, thành mỏng. Mảnh bần màu sẫm hơi vàng, các tế bào không rõ rệt, tập hợp thành từng đám nhỏ. Mảnh mô mềm, tinh thể calci oxalat nhỏ, hình khối. Hạt tinh bột nhỏ, hình tròn.
Vi phẫu
Lớp bần gồm 3 đến 4 lớp tế bào hình chữ nhật, sần sùi, có chỗ bị bong ra. Mô mềm vỏ tương đối hẹp, khoảng 4 đến 5 hàng tế bào xếp lộn xộn. Thường có 3 đến 4 vòng libe-gỗ: Các vòng ngoài xếp liên tục, còn 1 đến 2 vòng trong cùng thường bị tia ruột chia thành các bó riêng lẻ đứng gần nhau, trong mỗi vòng libe và gỗ thì các libe xốp ngoài, gỗ ở phía trong. Mô mềm ruột tế bào tròn có thành mỏng. Phân cách giữa libe và gỗ là tầng phát sinh libe-gỗ không rõ.
Định tính
Dung dịch thử: Lấy 1,5 g bột dược liệu vào chén bằng sứ hoặc thạch anh, có nắp đậy. Đốt dần dần để than hóa hoàn toàn. Để nguội, thêm 1 ml hỗn hợp gồm 1 thể tích acid nitric (TT) và 3 thể tích acid hydrocloric (TT), bốc hơi tới khô trên cách thủy. Làm ẩm cắn bằng 3 giọt acid hydrocloric (TT), thêm 10 ml nước nóng và làm ấm trong 2 min. Sau đó thêm 1 giọt dung dịch phenolphtalein (TT). thêm từng giọt amoniac (TT) cho đến khi dung dịch xuất hiện màu đỏ nhạt, thêm 2 ml acid acetic loãng (TT), lọc nếu cần, rửa phễu và cắn bằng 10 ml nước. Chuyển dịch lọc và dịch rửa vào ống Nessler, thêm nước vừa đủ 50 ml. Dung dịch đối chiếu: Bốc hơi trên cách thủy đến khô 1 ml hỗn hợp (pha trước khi dùng) gồm 1 thể tích acid nitric (TT) và3 thể tích acid hydrocloric (TT). Sau đó tiến hành như chỉ dẫn với dung dịch thử, sau đó thêm 3,0 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu Pb (TT) và thêm nước vừa đủ 50 ml. Cách tiến hành: Thêm 1 giọt dung dịch natri sulfid (TT) vào dung dịch thử và dung dịch đối chiếu, lắc mạnh, đc yên 5 min. So sánh màu của 2 ống nghiệm bằng cách nhin dọc ổng hoặc quan sát trên nền trắng. Dung dịch thử không được đậm màu hơn dung dịch đối chiếu.
Định lượng
nan
Thông tin khác
- Độ ẩm: Không quá 12,0 % (Phụ lục 9.6, 1 tỉ. 105 °c, 5 h).
- Bảo quản: Để nơi khô, tránh mốc mọt.
VI. Dược điển Hồng kong
VII. Y dược học cổ truyền
Tên vị thuốc: nan
Tính: nan
Vị: nan
Quy kinh: nan
Công năng chủ trị: Khố, toan, binh. Vào hai kinh can, thận.
Phân loại theo thông tư: nan
Tác dụng theo y dược cổ truyền: nan
Chú ý: nan
Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai, ỉa lỏng, người di tinh không dùng.